Cập nhật ngày 31/07/2026 – Luật sư Phạm Xuân Dương.
Trả lời ngắn: Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là hai chế tài khác nhau. Với hợp đồng thương mại, khoản phạt chỉ phát sinh khi có thỏa thuận và thông thường không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Bồi thường không tính theo tỷ lệ cố định, nhưng bên yêu cầu phải chứng minh vi phạm, thiệt hại thực tế, trực tiếp và quan hệ nhân quả.
1. Trước hết phải xác định đúng loại hợp đồng
Không nên lấy mức 8% áp dụng máy móc cho mọi giao dịch. Điều 301 Luật Thương mại 2005 điều chỉnh mức phạt trong hợp đồng thương mại thuộc phạm vi của Luật này. Đối với hợp đồng dân sự, Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận quyền thỏa thuận phạt vi phạm và không đặt ra một mức trần chung tương tự; tuy nhiên luật chuyên ngành có thể có quy định riêng.
Vì vậy, trước khi gửi yêu cầu thanh toán, doanh nghiệp cần xác định chủ thể, mục đích giao dịch, luật áp dụng và điều khoản giải quyết tranh chấp.
2. Phạt vi phạm chỉ có khi hợp đồng đã thỏa thuận
Theo Điều 300 Luật Thương mại 2005, bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu trả tiền phạt nếu hợp đồng có thỏa thuận về phạt vi phạm, trừ trường hợp miễn trách nhiệm. Điều khoản nên nêu rõ nghĩa vụ nào bị phạt, hành vi vi phạm, cách tính, thời điểm phát sinh và thời hạn trả.
Những câu chung chung như “bên vi phạm chịu phạt theo pháp luật” thường làm tăng tranh cãi về phạm vi và cách tính.
3. Mức 8% tính trên phần nghĩa vụ bị vi phạm
Điều 301 Luật Thương mại 2005 quy định mức phạt hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp tại Điều 266 của Luật này. Căn cứ tính không mặc nhiên là toàn bộ giá trị hợp đồng.
Ví dụ: hợp đồng mua 1.000 sản phẩm trị giá 1 tỷ đồng, bên bán chỉ không giao 200 sản phẩm trị giá 200 triệu đồng. Nếu nghĩa vụ vi phạm được xác định là phần không giao, mức phạt tối đa thông thường là 8% của 200 triệu đồng, tức 16 triệu đồng; không phải 8% của toàn bộ 1 tỷ đồng.
4. Bồi thường phải có đủ căn cứ
Điều 302 và Điều 303 Luật Thương mại 2005 yêu cầu có hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế và quan hệ nhân quả trực tiếp. Giá trị bồi thường có thể gồm tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng nếu không có vi phạm.
Hồ sơ chứng minh thường cần
- Hợp đồng, phụ lục, đơn đặt hàng và biên bản giao nhận;
- Email, tin nhắn công việc, thông báo vi phạm và yêu cầu khắc phục;
- Hóa đơn, chứng từ thanh toán, chi phí thuê đơn vị thay thế;
- Tài liệu xác định doanh thu hoặc khoản lợi trực tiếp bị mất;
- Tài liệu thể hiện đã hạn chế tổn thất.
5. Nghĩa vụ chứng minh và hạn chế tổn thất
Điều 304 đặt nghĩa vụ chứng minh tổn thất và khoản lợi trực tiếp bị mất lên bên yêu cầu bồi thường. Điều 305 yêu cầu bên bị vi phạm áp dụng biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất; nếu không, bên vi phạm có thể yêu cầu giảm phần thiệt hại lẽ ra có thể hạn chế.
6. Có thể yêu cầu đồng thời phạt và bồi thường không?
Trong quan hệ thương mại, Điều 307 cho phép áp dụng cả phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại khi hợp đồng có thỏa thuận phạt, trừ trường hợp Luật có quy định khác. Nếu không có thỏa thuận phạt, bên bị vi phạm vẫn có thể yêu cầu bồi thường khi chứng minh đủ điều kiện.
Doanh nghiệp cần tách riêng trong bảng tính: tiền phạt theo điều khoản; tổn thất thực tế; khoản lợi trực tiếp bị mất; lãi chậm trả nếu có căn cứ. Không nên cộng gộp thành một con số không giải trình.
7. Tám điểm cần kiểm tra trước khi yêu cầu thanh toán
- Hợp đồng thuộc luật dân sự, thương mại hay luật chuyên ngành nào?
- Điều khoản phạt có tồn tại và mô tả đúng hành vi vi phạm không?
- Giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm được xác định ra sao?
- Có sự kiện miễn trách nhiệm hoặc lỗi của bên yêu cầu không?
- Thiệt hại nào là thực tế, trực tiếp và có chứng từ?
- Quan hệ nhân quả giữa vi phạm và thiệt hại có rõ không?
- Đã gửi thông báo, dành thời hạn khắc phục và hạn chế tổn thất chưa?
- Thời hiệu, cơ quan giải quyết và thủ tục tiền tố tụng có được tuân thủ không?
8. Tình huống thực tế cần tránh
Bên mua giao nguyên liệu chậm làm bên bán không thể hoàn thành đúng lịch, nhưng sau đó bên mua yêu cầu phạt toàn bộ giá trị hợp đồng và bồi thường doanh thu dự kiến không có chứng từ. Trong tình huống này phải tách lỗi của từng bên, xác định phần nghĩa vụ thực sự bị vi phạm và kiểm tra chứng cứ thiệt hại. Việc ghi một tỷ lệ phạt cao trong hợp đồng không làm cho toàn bộ yêu cầu đương nhiên được chấp nhận.
Khi nào nên thuê luật sư?
Nên nhờ luật sư khi giá trị tranh chấp lớn, có nhiều phụ lục hoặc chuỗi giao dịch, hai bên cùng có lỗi, thiệt hại khó chứng minh, sắp hết thời hiệu hoặc cần lựa chọn giữa thương lượng, trọng tài và Tòa án. Luật sư có thể rà hợp đồng, xây dựng bảng yêu cầu, bảo toàn chứng cứ và soạn thông báo đúng căn cứ.
Xem thêm: dịch vụ luật sư giải quyết tranh chấp hợp đồng và quy trình thu hồi công nợ cho doanh nghiệp.
Gửi hợp đồng, phụ lục và tài liệu vi phạm qua Zalo 0933668166 để Luật sư Phạm Xuân Dương xem phạm vi công việc và đề xuất phương án phù hợp.
Căn cứ chính: Điều 266, Điều 294 và Điều 300–307 Luật Thương mại 2005; Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015. Nội dung mang tính tham khảo, việc áp dụng phụ thuộc hồ sơ cụ thể.
